KỸ THUẬT NUÔI TÔM SÚ

KỸ THUẬT NUÔI TÔM SÚ
I. MÙA VỤ
Với điều kiện tự nhiên của mô hình luân canh tôm-lúa chỉ nên thả nuôi tôm sú 1vụ/năm.
Đối với thời vụ nuôi tôm, để đảm bảo hiệu quả cao phù hợp với tình hình diễn biến cụ thể của thời tiết hàng năm chúng ta nên thả giống đúng theo lịch thời vụ khuyến cáo của Ngành Nông nghiệp địa phương hoặc theo sơ đồ về lịch thời vụ như sau.


II. CHỌN ĐỊA ĐIỂM NUÔI
2.1. Địa điểm nuôi
Nên chọn nơi giao thông thuận tiện; chủ động nguồn nước cấp, thoát; điều kiện an ninh tốt…
Không nên chọn địa điểm nuôi tôm ở những nơi có nhiều mùn bã hữu cơ, đất cát hay đất bị nhiễm phèn nặng.
Không chọn nơi gần nguồn nước có nguy cơ ô nhiễm cao như: bệnh viện, nước thải công nghiệp, nước thải sinh hoạt,…

2.2. Xây dựng ao nuôi


Có hệ thống kênh cấp, thoát nước riêng biệt.
Công trình cần đảm bảo các yếu tố sau:
2.2.1. Ao lắng: Chiếm 15 – 20% diện tích ao nuôi nhằm lắng tụ phù sa, chứa nước để xử lý mầm bệnh trước khi cấp vào vuông nuôi, chủ động được nguồn nước.

2.2.2. Ao ương: Chiếm khoảng 15-20% diện tích nuôi nhằm giúp chăm sóc tôm ở giai đoạn từ 30-45 ngày giúp tôm thích nghi tốt với môi trường nước vuông tôm, tăng tỷ lệ sống trước khi thả ra ao nuôi lớn.

2.2.3. Ao (ruộng) nuôi

Diện tích mương bao: Khoảng 25 – 30% diện tích ao nuôi.

Bờ ao cần được gia cố kỹ để tránh ngấm nước và sạt lở khi mưa bão.

Độ sâu mực nước: Trên trảng lớn hơn 0,7 m, dưới kênh 1,2 – 1,5m.

Có cống cấp thoát nước: 1 – 2 cống đảm bảo cấp, thoát nước kịp thời.

III. CHUẨN BỊ AO NUÔI

3.1. Cải tạo đất:

Sau khi thu hoạch vụ lúa xong, tiến hành cắt bỏ gốc rạ trên ruộng, gom lại đem lên bờ.

Phơi ruộng từ 5-7 ngày cho đất nứt chân chim để giải phóng một số khí độc ở nền đáy.

Vệ sinh và dọn sạch rong, cỏ và gia cố bờ bao, cống, bọng. Sên vét lớp bùn ở đáy mương bao.

Rửa vuông 2-3 lần, bằng cách lấy nước vô vuông ngâm từ 2-3 ngày, sau đó xổ ra để thải bỏ tạp chất.

Bón vôi: Khi mặt đất còn ướt, tùy theo pH đất mà lượng vôi cần bón như sau:

 

Bảng 3: Lượng vôi bón phù hợp theo PH của đất

* Lưu ý: đối với những vùng đất bị nhiễm phèn pH < 5 không nên phơi khô mà chỉ được rửa vuông nuôi.

3.2. Lấy nước: Nước được cấp từ ao lắng vào ao nuôi qua túi lọc bằng vải katê 2 lớp, mực nước 1,2-1,5 m. Sau 3 – 4 ngày tiến hành xử lý nước.

3.3. Diệt khuẩn nước

Chủ yếu áp dụng biện pháp lấy nước qua túi lọc vào ao lắng sau đó để lắng 3 – 4 ngày tiến hành diệt khuẩn bằng: BKC, Iodine… rồi mới cấp vào ao nuôi.

3.4. Diệt cá tạp (nếu còn cá):

Độ mặn ao nuôi dưới 10‰: Nên dùng rễ dây thuốc cá 10-15kg/1.000m 3.

Độ mặn ao nuôi trên 10‰: dùng Saponin 10 – 15kg/1.000m3.

3.5. Bón phân gây màu nước:

Tiến hành sau 2 – 3 ngày diệt cá tạp hoặc 3 – 5 ngày cấp nước vào ao nuôi.

Mục đích:

Gây nuôi thức ăn tự nhiên cho tôm khi mới thả.

Ngăn cản sự phát triển của rong đáy.

Tạo hệ đệm giúp các yếu tố môi trường ổn định.

Dùng một trong các cách sau:

Hỗn hợp cám mịn – bột đậu nành nấu ngâm ủ qua đêm liều dùng 3 – 5 kg (tỉ lệ 1:1) cho 1.000m 3

Phân vô cơ: urê, NPK, DAP với liều 1-3 kg/1.000m3 (tốt nhất dùng phối hợp 2 phần phân NPK hoặc DAP với 1 phần phân urê).

Các sản phẩm gây màu có bán trên thị trường.

Cách gây màu: hòa tan phân (vô cơ) tạt vào lúc 8 – 10 giờ sáng. Sau 2 – 3 ngày kiểm tra độ trong nếu chưa đạt thì tạt lặp lại phân nửa liều như trên đến khi màu nước đạt yêu cầu.

Có thể bổ sung thêm vôi Dolomite 10 – 15 kg/1.000m3 để hỗ trợ cho việc gây màu nhanh hơn.

Đối với những ao khó gây màu nên bổ sung thêm phân có hàm lượng lân với liều từ 10 – 15 kg/1.000m3.

Lưu ý: Để hạn chế sự phát triển của rong đáy cần:

Thực hiện tốt khâu cải tạo đất.

Lấy đủ nước 0,8 m trở lên (tính từ mặt trảng).

Nhanh chóng bón phân gây màu sau khi lấy nước.

3.6. Kiểm tra các yếu tố môi trường trước khi thả giống

Độ mặn: từ 5‰ trở lên.

Màu nước: xanh vỏ đậu, màu trà nhạt.

Độ trong: 30 – 35 cm.

pH = 7,5-8,5.

Độ kiềm: 80 – 120 mg/lít.